TRUYỀN THÔNG MỘT SỐ NGÀY LỄ TRONG THÁNG 12 NĂM 2024

1- Ngày Thế giới phòng chống bệnh AIDS (01/12); 2- Ngày Quốc tế Người khuyết tật (03/12); 3- Ngày thành lập Hội Cựu chiến binh Việt Nam (06/12); 4- Ngày Nhân quyền quốc tế (10/12); 5- Ngày toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp (19/12); 6- Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12); 7- Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam; 8- Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12); 9- Ngày Dân số Việt Nam (26/12); 10- Ngày Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” (29/12)

1. Ngày thế giới phòng chống bệnh HIV/AIDS (01/12)

HIV/AIDS là một đại dịch nguy hiểm, mối hiểm họa đối với tính mạng, sức khỏe con người và tương lai nòi giống của các quốc gia, các dân tộc trên toàn cầu. Nhằm nâng cao nhận thức về nạn dịch AIDS do việc lây nhiễm HIV, tưởng nhớ các nạn nhân đã chết vì HIV/AIDS, đưa công cuộc phòng chống AIDS lên vị trí ưu tiên hàng đầu và xây dựng một thế giới không có AIDS, ngày 1/12 hàng năm được chọn là Ngày thế giới phòng chống AIDS (World AIDS Day).

Mẫu máu có HIV dương tính được phát hiện đầu tiên vào năm 1959 tại Zaize - châu Phi. Mãi đến năm 1981, bệnh AIDS trên lâm sàng được phát hiện đầu tiên tại Mỹ. Thành phố nơi dịch HIV bùng phát đầu tiên là Kinshasa, nay là thủ đô Cộng hòa Congo. Dịch HIV/AIDS tuy mới xuất hiện từ thập niên 80 nhưng đã nhanh chóng lan ra toàn cầu. HIV tấn công mọi đối tượng nhưng chủ yếu là thanh niên, phụ nữ, trẻ em. Đại dịch HIV/AIDS là mối đe dọa trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng con người; ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, xã hội và tương lai nòi giống của các dân tộc. Còn ở Việt Nam, trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện vào tháng 12 năm 1990 tại thành phố Hồ Chí Minh. Dịch HIV/AIDS bắt đầu bùng nổ từ năm 1993 trong nhóm những người nghiện chích ma túy tại thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó dịch bắt đầu lan ra các tỉnh. Đến cuối tháng 12/1998, toàn bộ 61 tỉnh, thành trong cả nước đều đã phát hiện có người bị nhiễm HIV. Theo các nhà nghiên cứu, nếu đẩy mạnh các biện pháp tích cực phòng chống HIV/AIDS, tới năm 2030, HIV/AIDS sẽ không còn là mối đe dọa toàn cầu về sức khỏe, cứu 21 triệu người thoát chết và ngăn ngừa được 28 triệu trường hợp bị nhiễm virus.

Với hình tượng dải băng đỏ, có thể là buộc ở cổ tay hoặc được để ở những nơi trang trọng, chính là biểu tượng toàn cầu cho tình đoàn kết với những người nhiễm HIV và những người bệnh AIDS.


Tại Việt Nam, trong hơn 30 năm ứng phó với đại dịch AIDS, Đảng, Nhà nước đã lãnh đạo, chỉ đạo cùng với sự vào cuộc của chính quyền các cấp, sự tham gia của các ban, ngành, đoàn thể và của nhân dân, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, đang từng bước được kiểm soát, tỷ lệ nhiễm trong cộng đồng dân cư.

Bất cứ ai cũng có nguy cơ bị lây nhiễm HIV/AIDS.  Việc phòng chống HIV/AIDS là trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi cá nhân, gia đình và toàn xã hội. Người dân cần phải trang bị cho mình đầy đủ những kiến thức về phòng chống HIV/AIDS. Tích cực tham gia các buổi tuyên truyền về tệ nạn xã hội, có lối sống lành mạnh tự chủ trong các mối quan hệ, không sa vào tệ nạn xã hội như ma túy mại dâm nhằm đẩy lùi đại dịch HIV/AIDS.

2. Ngày Quốc tế Người khuyết tật (03/12)

Ngày Quốc tế Người khuyết tật (International Day of Persons with Disabilities) vào 3/12 hàng năm đã được công bố kể từ năm 1992 bằng Nghị quyết số 47/3 của Đại hội đồng Liên hợp quốc. Nhằm mục đích đảm bảo hạnh phúc của người khuyết tật trong mọi lĩnh vực của xã hội, đồng thời nâng cao nhận thức về tình trạng của người khuyết tật trong mọi khía cạnh của đời sống chính trị, xã hội, kinh tế và văn hóa.

Cộng đồng quốc tế đã tổ chức nhiều hoạt động và lễ kỷ niệm nhằm tôn vinh giá trị của người khuyết tật. Năm 1960, thế vận hội Paralympic cho người khuyết tật chính thức đầu tiên đã được đăng cai. Năm 1976, Liên hợp quốc đã quyết định rằng năm 1981 phải là năm Quốc tế về Người khuyết tật. Năm 1992, ngày dành riêng cho người khuyết tật, ngày Quốc tế Người khuyết tật 3/12 đã được Liên hợp quốc công bố.

Ngày Quốc tế Người khuyết tật 3/12 là ngày giúp mọi người trở nên nhân ái và thấu hiểu hơn những thách thức mà người khuyết tật phải đối mặt. Ngày không phân biệt đối xử giữa khuyết tật về tinh thần và thể chất, đảm bảo rằng tất cả mọi người trên thế giới đều có cơ hội bình đẳng về công việc, vui chơi, sức khỏe và thành công. Người khuyết tật có thể và rất thường xuyên là những thành viên đóng góp và có giá trị trong xã hội.

Hàng năm, WHO quyết định một chủ đề và phát triển các tài liệu vận động dựa trên bằng chứng như tài liệu quảng cáo, tờ rơi, áp phích, biểu ngữ, đồ họa thông tin và các bài thuyết trình, trong số những tài liệu khác. Những tài liệu này được chia sẻ với các đối tác trong chính phủ và xã hội dân sự trên toàn thế giới cũng như các văn phòng khu vực và quốc gia của WHO. Tại trụ sở chính ở Geneva, WHO tổ chức sự kiện IDPD hàng năm nhằm giáo dục cộng đồng, nâng cao nhận thức, ủng hộ ý chí chính trị và các nguồn lực, cũng như kỷ niệm những thành tựu của WHO.

Việt Nam trong những năm qua đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong công tác chăm lo cho người khuyết tật. Đặc biệt, Đảng và Nhà nước vẫn luôn quan tâm ưu tiên bố trí nguồn lực và ban hành nhiều chủ trương, chính sách pháp luật trợ giúp xã hội, bảo đảm các quyền của người khuyết tật và thúc đẩy sự tham gia của người khuyết tật vào phát triển kinh tế, xã hội.

3. Ngày thành lập Hội Cựu chiến binh Việt Nam (06/12)

Sau hơn nửa thế kỷ đấu tranh cách mạng và kháng chiến chống giặc ngoại xâm, cả nước có hơn 4 triệu cựu chiến binh, là những người đã cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Có những đồng chí từng tham gia các đội tự vệ Đỏ trong phong trào Xô Viết Nghệ - Tĩnh năm 1930 - 1931, tham gia Đội du kích Bắc Sơn, du kích Nam Kỳ, Cứu quốc quân, Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, du kích Ba Tơ…; nhiều đồng chí tham gia chiến đấu từ những ngày Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945, kháng chiến chống Pháp; số đông trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế…

Xuất phát từ tình hình, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới và đáp ứng nguyện vọng thiết tha, chính đáng của đông đảo cựu chiến binh Việt Nam, ngày 6-12-1989, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI) đã quyết định thành lập Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Từ đó, ngày 6-12 hằng năm được lấy làm Ngày truyền thống của Hội. Sự ra đời của Hội Cựu chiến binh Việt Nam là dấu mốc lịch sử quan trọng trong đời sống chính trị, tinh thần, phù hợp với nguyện vọng chính đáng của lực lượng cựu chiến binh để tiếp tục cống hiến xây dựng quê hương, phát huy bản chất, truyền thống Bộ đội Cụ Hồ phục vụ sự nghiệp bảo vệ, xây dựng đất nước trong thời bình, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, gắn bó tình bạn chiến đấu…

4. Ngày Nhân quyền quốc tế (10/12)

Ngày 10 tháng 12 năm 1948 Liên Hợp Quốc công bố Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền. Vào ngày này bà Eleanor Roosevelt, nguyên Đệ nhất phu nhân Hoa Kỳ, đã đại diện Liên Hợp Quốc tuyên đọc bản Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền lịch sử tại Paris, Pháp. Bản Tuyên ngôn này là nền tảng cho Bộ luật Nhân quyền Quốc tế, bao gồm hai công ước cơ bản về quyền con người cùng được Liên Hợp Quốc thông qua vào năm 1966 là Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị và Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa.

Ngày 4 tháng 12 năm 1950, trong phiên họp toàn thể lần thứ 317, Liên Hợp Quốc ban hành Nghị quyết A/RES/423 (V) chính thức công nhận ngày 10 tháng 12 hằng năm là "Ngày Nhân quyền" (Human Rights Day). Trong những năm gần đây, Liên Hợp Quốc còn chọn chủ đề cho ngày Nhân quyền trong mỗi năm. Các tổ chức nhân quyền như Tổ chức Ân xá Quốc tế xem ngày này hàng năm như một cơ hội để xem xét tình hình nhân quyền trên toàn thế giới và đúc kết tình hình hiện tại.

Nghị viện châu Âu mỗi năm vào ngày này tổ chức lễ trao Giải thưởng Sakharov, các tổ chức Phóng viên Không Biên giới trao Giải thưởng Nhân quyền của họ.

Hàng năm vào ngày 10 tháng 12, cũng là ngày mất của Alfred Nobel, tại Oslo (Na Uy) tổ chức lễ trao giải thưởng Nobel Hòa bình.

Ngày 10 tháng 12 hàng năm được tôn vinh là ‘’‘Ngày Quốc tế Nhân quyền’‘’, là ngày được Liên Hợp Quốc công bố là ngày lễ quốc tế vào năm 1950, nhân kỷ niệm việc thông qua Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền vào năm 1948. Ngày này được các nước trên thế giới kỷ niệm để thể hiện sự tôn trọng và bảo vệ các quyền con người.

5. Ngày toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp (19/12)

Để bảo vệ nền độc lập, tự do cho đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến. Đó là lời hịch non sông, kêu gọi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đoàn kết, đứng lên chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược, giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc.

Tháng Tám năm 1945, chớp thời cơ “nghìn năm có một”, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên phạm vi toàn quốc, xóa bỏ ách cai trị của đế quốc phát xít, đồng thời lật đổ chế độ phong kiến tồn tại hàng ngàn năm, lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2/9/1945) - Nhà nước công nông đầu tiên Đông Nam Á.

Nhưng ngay sau đó, thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta, hòng khôi phục chế độ cai trị như trước. Trải qua một thời gian chúng ta nhân nhượng để ra sức chuẩn bị tiềm lực mọi mặt, ngày 19/12/1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Đây là sự kiện quan trọng, là bước chuyển của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam sang thời kỳ mới.

Ra đời trong thời khắc lịch sử đặc biệt, “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tác động đến sâu thẳm lòng yêu nước và ý chí quật cường của dân tộc, trở thành biểu tượng lớn của sức mạnh đại đoàn kết.

Cuối năm 1946, sau khi có thêm viện binh, thực dân Pháp liên tiếp có những hành động khiêu khích, công khai mưu đồ xâm lược, thiết lập lại nền cai trị thuộc địa đối với nước ta. Tháng 11/1946, chúng ngang nhiên đưa lực lượng chiếm đóng Hải Phòng, Lạng Sơn. Tại Hà Nội, từ đầu tháng 12/1946, quân Pháp liên tục dùng đại bác, súng cối bắn phá vào nhiều khu phố tàn sát dân thường, chiếm một số trụ sở của Chính phủ cách mạng. Đặc biệt, ngày 18 và 19/12/1946, thực dân Pháp liên tiếp gửi tối hậu thư buộc Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải giải tán lực lượng tự vệ, giao quyền kiểm soát Thủ đô cho chúng.

Trước âm mưu, hành động xâm lược của kẻ thù, Nhân dân Việt Nam không có con đường nào khác là cầm súng chiến đấu để bảo vệ nền độc lập, tự do vừa giành được. Ngày 18 và 19/12/1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp hội nghị tại Vạn Phúc (Hà Đông), ra quyết định lịch sử: phát động toàn quốc kháng chiến. Đêm 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến:

“Hỡi đồng bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa!

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.

Hỡi đồng bào!

Chúng ta phải đứng lên!

Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.

Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!

Giờ cứu quốc đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước.

Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!

Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm!

Kháng chiến thắng lợi muôn năm!”

Đó là lời hịch cứu nước, thể hiện ý chí quyết tâm sắt đá của cả dân tộc, khơi dậy sức mạnh chủ nghĩa yêu nước, truyền thống anh hùng bất khuất; động viên, thôi thúc, cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta bước vào cuộc kháng chiến giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc.

Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Chỉ thị Toàn dân kháng chiến của Ban Thường vụ Trung ương Đảng (viết xong ngày 12/12/1946) và tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của Tổng Bí thư Trường Chinh đã xác lập đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và dựa vào sức mình là chính; trở thành ánh sáng soi đường cho dân tộc ta đi đến thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Chấp hành mệnh lệnh của Trung ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy, quân dân ta ở các tỉnh Bắc vĩ tuyến 16 có quân Pháp chiếm đóng đồng loạt nổ súng. Chiến sự diễn ra rất quyết liệt, đặc biệt là trong các thành phố lớn.

Tại Thủ đô Hà Nội, khoảng 20 giờ ngày 19/12/1946, công nhân nhà máy điện Yên Phụ phá máy, cả thành phố tắt điện. Đó là hiệu lệnh chiến đấu toàn thành, mở đầu kháng chiến toàn quốc. Dù quân ta trang bị vũ khí thô sơ chống lại kẻ địch tinh nhuệ trang bị vũ khí hiện đại, nhưng với tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, chiến sĩ ta có sự hỗ trợ tích cực của nhân dân vẫn ngày đêm kiên cường bám trụ, giành giật với địch từng căn nhà, từng góc phố. Nhiều trận đánh diễn ra quyết liệt tại Bắc Bộ phủ, chợ Đồng Xuân, nhà bưu điện… diệt nhiều địch, gây hoang mang cho kẻ thù.

Cùng với Hà Nội, quân dân các địa phương khắp Bắc, Trung, Nam anh dũng đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược. Cả dân tộc chung sức đồng lòng đánh giặc cứu nước với ý chí sục sôi, niềm tin tất thắng. Đến tháng 2/1947, khi địch tăng viện phá vòng vây, lực lượng ta được lệnh rút về hậu phương, cuộc chiến đấu trong các đô thị tạm thời kết thúc để chuyển sang giai đoạn chiến đấu mới.

Trải qua gần hai tháng liên tục chiến đấu, quân dân ta giành thắng lợi quan trọng: thực hiện tiêu hao, tiêu diệt, giam chân địch trong thành phố, làm thất bại kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp; tạo điều kiện di chuyển các cơ quan, kho tàng, vật chất (ta đã vận chuyển được gần 40.000 tấn máy móc, nguyên liệu ra vùng căn cứ); tranh thủ thời gian tổ chức cho hàng chục vạn nhân dân tản cư về vùng căn cứ xây dựng thế trận kháng chiến lâu dài.

Toàn quốc kháng chiến đã đi vào lịch sử dân tộc như một mốc son chói lọi về tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường của Nhân dân Việt Nam trong thế kỷ 20 và để lại nhiều bài học vô cùng quý giá. Phát huy tinh thần toàn quốc kháng chiến trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay, chúng ta cần giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng; tranh thủ thời cơ thuận lợi, khắc phục những khó khăn, thách thức để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế – xã hội theo hướng bền vững, tạo tiềm lực to lớn cho đất nước; không ngừng chăm lo củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc; kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; nêu cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh chống các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của các thế lực thù địch trong và ngoài nước…

6. Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12)

Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 được ký kết, đất nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền. Từ nam vĩ tuyến 17, đế quốc Mỹ hất cẳng thực dân Pháp, dựng lên chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm, thực hiện chế độ thực dân mới, phản bội lại những nguyện vọng tha thiết của nhân dân ta là hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và cải thiện đời sống. Chúng chủ trương xoá bỏ ý nghĩa thắng lợi của cuộc cách mạng Tháng Tám và thành quả của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng đàn áp và dập tắt phong trào đấu tranh của nhân dân ta ở miền Nam, gây nên biết bao cảnh đau thương, tang tóc. Nhân dân miền Nam đã vùng lên với nhiều hình thức đấu tranh chính trị, bạo lực vũ trang để chống lại sự bắt bớ, đàn áp dã man của Mỹ - Ngụy, bảo vệ quyền sống, quyền làm người, để xoá cảnh nước nhà bị chia cắt. Cuộc đồng khởi ở Bến Tre rồi nhanh chóng lan rộng ra khắp các tỉnh Nam bộ, Tây Nguyên và một số tỉnh Nam Trung bộ…

Thắng lợi to lớn của cuộc đồng khởi cùng sự khủng hoảng gay gắt trong nội bộ địch đặt ra yêu cầu mới là phải tập hợp, đoàn kết rộng rãi hơn nữa các tầng lớp nhân dân miền Nam trong một Mặt trận Dân tộc thống nhất để đẩy mạnh cuộc đấu tranh nhằm chấm dứt ách thống trị của đế quốc Mỹ, lật đổ bộ máy ngụy quyền, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Tháng 9/1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng được triệu tập, đã hoàn chỉnh những nội dung cơ bản về đường lối và phương pháp cách mạng ở miền Nam. Đại hội chủ trương thành lập Trung ương Cục ở miền Nam để giúp Trung ương Đảng, Bộ Chính trị chỉ đạo phong trào cách mạng miền Nam. Để tập hợp rộng rãi lực lượng cách mạng và phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, nêu cao chủ nghĩa yêu nước, Đại hội III của Đảng cũng chủ trương phải xây dựng tổ chức Mặt trận Dân tộc thống nhất ở miền Nam.

Ngày 20/12/1960, Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam được tiến hành tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Đại hội đã quyết định thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN), thông qua Tuyên ngôn và Chương trình hành động 10 điểm của Mặt trận. Đây là sự kiện quan trọng, là bước ngoặt của cách mạng miền Nam. MTDTGPMNVN ra đời là tất yếu của lịch sử, đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp cách mạng miền Nam. Kể từ đây, MTDTGPMNVN là người đại diện chân chính, ngọn cờ công khai đoàn kết, tập hợp tất cả các tầng lớp nhân dân, các giai cấp, các dân tộc, các đảng phái, các đoàn thể, các tôn giáo và nhân sĩ yêu nước ở miền Nam, không phân biệt xu hướng chính trị, để đấu tranh lật đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai phản động, thực hiện độc lập, dân chủ, hoà bình, thống nhất Tổ quốc.

Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Ðảng, kế thừa và vận dụng sáng tạo kinh nghiệm hoạt động của các hình thức tổ chức Mặt trận trước đây, MTDTGPMNVN đã coi trọng cả ba mũi giáp công và ba vùng chiến lược; kết hợp nhuần nhuyễn các hình thức đấu tranh chính trị, vũ trang, binh vận, ngoại giao nhằm phát huy sức mạnh dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại, tạo nên sức mạnh tổng hợp. Ðược sự chi viện tối đa của quân và dân miền Bắc, sự ủng hộ, giúp đỡ quý báu của nhiều nước và nhân dân tiến bộ trên thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ của nước Mỹ, MTDTGPMNVN đã lãnh đạo quân và dân miền Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, làm nên Ðại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, non sông thu về một mối, đưa cả nước bước sang một kỷ nguyên mới, đi lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội.

Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, tháng 2/1977, MTDTGPMNVN và Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam hợp nhất với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành một tổ chức duy nhất lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.  

7. Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22/12)

Trong Chính Cương vắn tắt (tháng 02/1930), Đảng ta đã khẳng định con đường giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc phải tổ chức ra quân đội công nông để giành chính quyền và giữ chính quyền. Vì vậy, ngay sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, các tổ chức vũ trang lần lượt được hình thành là Đội tự vệ đỏ, đội du kích Bắc Sơn, du kích Nam Kỳ, đội du kích Ba Tơ, đội Du kích Pắc Bó, Cứu Quốc quân. Sự phát triển mạnh mẽ, rộng khắp và trưởng thành của phong trào đấu tranh cách mạng đòi hỏi cách mạng Việt Nam phải có một đội quân chủ lực thống nhất về mặt tổ chức để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng giải phóng dân tộc.

Ngày 22/12/1944, tại khu rừng giữa tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo thuộc châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng (nay là xóm Nà Sang, xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng), Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập theo Chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh gồm 34 chiến sĩ (trong đó có 25 chiến sĩ là con em dân tộc Cao Bằng), biên chế thành 3 tiểu đội. Đồng chí Hoàng Sâm được cử làm Đội trưởng. Đồng chí Xích Thắng (Dương Mạc Thạch) làm Chính trị viên. Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân có chi bộ Đảng lãnh đạo.

Vào hồi 17 giờ ngày 25/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã mưu trí, táo bạo, bất ngờ đột nhập vào đồn Phai Khắt (đóng tại tổng Kim Mã, châu Nguyên Bình, nay thuộc xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng); 7 giờ sáng ngày 26/12/1944 lại đột nhập đồn Nà Ngần (đóng tại xã Cẩm Lý, châu Nguyên Bình, nay thuộc xã Hoa Thám, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng), giết chết hai tên đồn trưởng, bắt sống toàn bộ binh lính địch và thu tất cả vũ khí, quân trang, quân dụng. Chiến thắng Phai Khắt, Nà Ngần đã mở đầu cho truyền thống của quân đội ta.

Tháng 4/1945, Trung ương Đảng quyết định thống nhất các lực lượng vũ trang cả nước thành Việt Nam Giải phóng quân. Ngày 15/5/1945, tại Định Biên Thượng, Định Hóa, Thái Nguyên, đồng chí Võ Nguyên Giáp trở thành Tư lệnh các lực lượng vũ trang thống nhất, mang tên Việt Nam Giải phóng quân.

Với sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng vũ trang cùng các tầng lớp Nhân dân đồng loạt đứng dậy tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền. Chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 8/1945, cuộc Tổng khởi nghĩa của Nhân dân ta đã giành thắng lợi hoàn toàn.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Việt Nam Giải phóng quân được đổi tên thành Vệ Quốc quân. Năm 1946, Vệ Quốc quân đổi tên thành Quân đội Quốc gia Việt Nam. Năm 1950, đổi tên thành Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Ngày 22/12/1944, ngày thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân - Đội quân chủ lực đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam được lấy làm Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam.

8. Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12)

Quốc phòng toàn dân là nền quốc phòng mang tính chất “vì dân, do dân, của dân”, phát triển theo phương hướng: toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và ngày càng hiện đại, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng và an ninh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, do Nhân dân làm chủ, nhằm giữ vững hòa bình, ổn định của đất nước, sẵn sàng đánh bại mọi hành động xâm lược và bạo loạn lật đổ của các thế lực đế quốc và phản động, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán khẳng định, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân là nòng cốt. Nền quốc phòng của Việt Nam là nền quốc phòng mang tính chất hòa bình, tự vệ và mang bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Việt Nam xây dựng sức mạnh quân sự, quốc phòng dựa trên sức mạnh tổng hợp của cả nước, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, sức mạnh của lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân với sức mạnh của lực lượng và thế trận an ninh nhân dân. Đảng, Nhà nước ta chủ trương phát triển kinh tế, xã hội gắn với tăng cường khả năng quốc phòng, an ninh, phối hợp chặt chẽ hoạt động quốc phòng, an ninh với hoạt động đối ngoại thành một thể thống nhất để phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thực tiễn lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, nhất là các cuộc khởi nghĩa, các cuộc chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc do Nhân dân ta tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng đã chứng minh sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bất kỳ giai đoạn nào, phải đương đầu với kẻ thù hung bạo đến đâu, nếu cổ vũ, động viên, quy tụ được sức mạnh toàn dân thì dân tộc ta đều giành thắng lợi vĩ đại, bảo đảm sự bền vững của độc lập, tự do, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.

Xuất phát từ vai trò của công tác tuyên truyền, cổ vũ, động viên toàn dân tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, đồng thời thể theo nguyện vọng của quân và dân cả nước, ngày 17/10/1989, Ban Bí thư Trung ương Ðảng khóa VI đã ra Chỉ thị số 381-CT/TW quyết định lấy ngày 22/12 - Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam là Ngày hội Quốc phòng toàn dân. Ngày 22/12/1989, lần đầu Ngày hội Quốc phòng toàn dân được tổ chức tại tất cả các địa phương trong cả nước. Từ đó đến nay, ngày 22/12 đã trở thành ngày hội lớn của toàn dân tộc với các hoạt động hướng vào chủ đề quốc phòng và quân đội.

Lấy ngày 22/12 là Ngày hội Quốc phòng toàn dân là sự kế thừa truyền thống toàn dân đánh giặc giữ nước của dân tộc ta qua các giai đoạn lịch sử; là chủ trương lớn, quan trọng của Đảng, Nhà nước; tiếp tục khẳng định quan điểm toàn dân tham gia xây dựng, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Đây thực sự là ngày hội của truyền thống dựng nước và giữ nước, ngày hội tôn vinh và nhân lên hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, một nét độc đáo của văn hóa dân tộc Việt Nam trong thời đại mới.

Ngày hội Quốc phòng toàn dân là dịp để tuyên truyền sâu rộng truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc và phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, giáo dục lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; từ đó nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn dân trong tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh gắn với thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, cổ vũ, động viên toàn dân chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh trên từng địa phương, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hùng mạnh trong tình hình mới.

Hàng năm, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã có rất nhiều hoạt động phong phú, sáng tạo để tổ chức kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và Ngày hội Quốc phòng toàn dân, như: Mít tinh, hội thảo, hội nghị đoàn kết quân - dân, ngày hội văn hóa quân - dân, tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục với nội dung, hình thức phong phú, đa dạng; tổ chức gặp mặt, giao lưu, nói chuyện truyền thống, thăm hỏi động viên các cựu chiến binh, cựu thanh niên xung phong, các gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh; giao lưu văn hóa, văn nghệ, thi đấu thể dục thể thao, hội thao quân sự trong lực lượng vũ trang nhân dân; xây dựng nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết tặng các đối tượng chính sách; tham gia xây dựng, tu sửa, tôn tạo, nâng cấp nghĩa trang liệt sĩ, đài tưởng niệm, đền thờ liệt sĩ; tổ chức dâng hương, tri ân các anh hùng, liệt sĩ ...

Các cấp, các ngành, cấp ủy và chính quyền các địa phương đã chú trọng đẩy mạnh phong trào thi đua lao động sản xuất, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo, gắn với xây dựng và phát triển tiềm lực quốc phòng, an ninh qua các chương trình, các dự án phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; tuyên truyền, vận động quần chúng Nhân dân tích cực tham gia xây dựng và củng cố quốc phòng, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, xây dựng cơ sở chính trị ở địa phương vững mạnh. Thông qua đó, “thế trận lòng dân” ngày càng được củng cố vững chắc, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội để phát triển đất nước nhanh và bền vững. Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “Tiềm lực quốc phòng và an ninh được tăng cường; thế trận lòng dân được chú trọng; thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, nhất là trên các địa bàn chiến lược, trọng điểm, được củng cố vững chắc

9. Tháng hành động quốc gia về Dân số (tháng 12) và Ngày Dân số Việt Nam (26/12)

Công tác Dân số - KHHGĐ là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu, là yếu tố nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội. Giữa dân số và phát triển kinh tế - xã hội luôn có mối quan hệ biện chứng, hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau. Muốn tăng trưởng kinh tế thì yếu tố đầu tiên phải là con người và phải là con người có sức khỏe và trí tuệ. Công tác Dân số - KHHGĐ đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm từ những năm đầu của thập kỷ 60, với việc ban hành Quyết định số 216/QĐ-CP ngày 26/12/1961 của Hội đồng Chính phủ về việc sinh đẻ có hướng dẫn. Quyết định đã nêu rõ mục tiêu của việc hướng dẫn sinh đẻ vì sức khỏe của người mẹ, vì hạnh phúc và hòa thuận gia đình, để cho việc nuôi dậy con được chu đáo. Đây là mốc quan trọng để Chính phủ ban hành Quyết định số 326/QĐ-TTG ngày 19/5/1997 lấy ngày 26/12 hàng năm là Ngày Dân số Việt Nam.

Với mục đích nhằm tăng cường các hoạt động truyền thông về dân số theo Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới; Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030 và các chương trình, kế hoạch đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Theo đó, các hoạt động hưởng ứng Tháng hành động Quốc gia về Dân số và Ngày Dân số Việt Nam (26/12) được tổ chức với nhiều hình thức phong phú, phù hợp với tính chất, điều kiện và hoàn cảnh cụ thể; động viên được tinh thần tích cực tham gia của đông đảo cán bộ, công chức, viên chức và người lao động toàn ngành cũng như các cơ quan phối hợp; sự hưởng ứng tích cực của người dân; tổ chức thực hiện tiết kiệm, lồng ghép hiệu quả với các hoạt động truyền thông khác

Tháng hành động Quốc gia về Dân số và Ngày Dân số Việt Nam (26/12) được tổ chức hàng năm nhằm tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền vận động về dân số và phát triển. Đây cũng là dịp tăng cường sự quan tâm của các cấp ủy và toàn bộ cộng đồng đối với công tác dân số của Việt Nam trong tình hình mới.

Với chủ đề tháng hành động quốc gia về Dân số và ngày Dân số Việt Nam năm 2024 là “Nâng cao chất lượng dân số để đất nước phồn vinh, gia đình hạnh phúc”. TTYT huyện Sông Mẫ tiếp tục tham mưu cho UBND huyện chỉ đạo các cơ quan đơn vị, UBND các xã, thị trấn tiếp tục quán triệt và triển khai cụ thể hóa Nghị quyết 21-NQ/TW của Trung ương về công tác dân số trong tình hình mới, bảo đảm thực hiện tốt các mục tiêu định hướng và sát với tình hình thực tiễn của địa phương, chuyển trọng tâm từ kế hoạch hóa gia đình sang Dân số và phát triển. Tập trung triển khai các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng dân số để góp phần phát triển nhanh, bền vững. Đồng thời, đẩy mạnh công tác truyền thông, tư vấn dưới nhiều hình thức về công tác Dân số- Kế hoạch hóa gia đình; Huy động mọi lực lượng tham gia vào việc nâng cao chất lượng công tác dân số, trong đó nòng cốt là lực lượng cán bộ y tế - dân số; Chủ động ứng phó với già hóa dân số, có giải pháp tích cực giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh.

Thực hiện tốt chính sách dân số, kế hoạch hoá gia đình mọi ng­ười có cơ hội học tập, hiểu biết, nâng cao dân trí, mở rộng tầm nhìn về xã hội hiện đại, có điều kiện trong việc chăm sóc và giữ gìn sức khoẻ phục vụ tốt cho sự phát triển bền vững.

10. Ngày Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” (29/12)

Bảo vệ bầu trời Hà Nội từ sớm là nhấn mạnh đến sự chủ động chuẩn bị trước về thời gian. Bảo vệ bầu trời Hà Nội “từ sớm” là sớm về tư duy, nhận thức, sớm có quan điểm chỉ đạo, phương châm hành động, sớm trong nhận diện nguy cơ uy hiếp, sớm có phương án, lực lượng, phương tiện bảo vệ. Quá trình xây dựng, củng cố, phát triển cũng là quá trình triển khai các biện pháp phòng ngừa, bảo vệ, tự bảo vệ từ trước. Như vậy, bảo vệ bầu trời Hà Nội từ sớm có nghĩa là phải có chiến lược bảo vệ, tự bảo vệ bên trong, từ bên trong; ngăn ngừa, triệt tiêu các nhân tố xâm lược, phá hoại, mất ổn định bên trong lẫn bên ngoài. Vì thế, ngay sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Hà Nội chưa có pháo cao xạ như nhà chưa có nóc”. Thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Người và đáp ứng yêu cầu cách mạng, từ năm 1954 đến năm 1964, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã ra quyết định thành lập nhiều đơn vị pháo phòng không: Trung đoàn 210, 220, 230, 240, 250, 260, 280; trong đó, có ba trung đoàn pháo phòng không bảo vệ Hà Nội là 220, 230 và 260.

Ngay từ năm 1962, khi Mỹ chưa sử dụng máy bay B-52 ở chiến trường Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đến vũ khí tối tân, hiện đại bậc nhất này của Mỹ và đã chỉ thị cho lực lượng phòng không chủ động nghiên cứu để tiêu diệt nó.

Cùng với việc tự chuẩn bị về tư duy, quan điểm, lực lượng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ động đề nghị Liên Xô giúp Việt Nam xây dựng lực lượng tên lửa phòng không nhân dịp Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Kô-xư-ghin thăm Hà Nội, tháng 2-1965. Hai trung đoàn tên lửa 236 và 238 được thành lập, trong đó Trung đoàn 236 - đơn vị tên lửa đầu tiên - được triển khai chiến đấu tại khu vực Suối Hai, Bất Bạt, Hà Tây (nay là Hà Nội), để đối phó với không quân Mỹ đang leo thang đánh ra miền Bắc.

Để tạo thêm lưới lửa bảo vệ Hà Nội, ngày 19-5-1965, Bộ Tổng Tư lệnh ra quyết định số 67/QĐ-QP, thành lập Bộ Tư lệnh Phòng không Hà Nội, trực thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân. Sự ra đời của Bộ Tư lệnh Phòng không Hà Nội, cùng các lực lượng phòng không khác, mở đầu cho việc hình thành lực lượng phòng không ba thứ quân ở Thủ đô, trong đó lực lượng phòng không Sư đoàn Phòng không 361 làm nòng cốt, có ý nghĩa hết sức quan trọng trong chiến đấu chống chiến tranh phá hoại miền Bắc của không quân Mỹ. Đồng thời, sự kiện này còn đánh dấu một bước phát triển cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng kịp thời yêu cầu tác chiến phòng không bảo vệ Thủ đô Hà Nội - trái tim thiêng liêng của Tổ quốc.

Ngày 18-6-1965, đế quốc Mỹ sử dụng máy bay chiến lược B-52 ném bom rải thảm khu vực Bến Cát (phía tây bắc Sài Gòn). Trước hành động phiêu lưu quân sự mới của Mỹ, ngày 19-7-1965, khi đến thăm Quân chủng Phòng không - Không quân, tại Trung đoàn 234 (Đoàn pháo cao xạ Tam Đảo), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Dù đế quốc Mỹ có lắm súng, nhiều tiền. Dù chúng có B-57, B-52, hay “bê” gì đi chăng nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng”. Trước hành động Mỹ dùng B-52 đánh ra Quảng Bình, sau đó đánh rộng ra Vĩnh Linh - Quảng Trị năm 1966, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị lực lượng phòng không - không quân phải tìm ra cách đánh B-52.

Quán triệt tinh thần đó, Quân ủy Trung ương đã chỉ đạo lực lượng vũ trang, trực tiếp là Quân chủng Phòng không - Không quân xây dựng kế hoạch tác chiến phòng không chống địch tập kích B-52 đánh vào Hà Nội. Với quan điểm “muốn bắt cọp thì phải vào tận hang”, Trung đoàn Tên lửa 238 đã được đưa vào tuyến lửa Vĩnh Linh để nghiên cứu cách đánh B-52.

Sau nhiều lần hội thảo khoa học và rút kinh nghiệm trong chiến đấu, Quân chủng Phòng không - Không quân đã tìm ra cách đánh và quyết tâm đánh bại âm mưu của đế quốc Mỹ. Tất cả sự chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, về ý chí, quyết tâm đã thể hiện ta “không để bị bất ngờ”, sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của địch. Năm 1968, Quân chủng Phòng không - Không quân đã bắt tay xây dựng kế hoạch đánh trả cuộc tập kích bằng máy bay B-52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội.

Với những kinh nghiệm ban đầu, với quyết tâm cao độ, trong khoảng thời gian từ năm 1968 đến giữa năm 1972, Quân chủng Phòng không - Không quân tiếp tục điều động 4 trung đoàn tên lửa cùng một số máy bay MiG vào Khu 4 để chi viện cho Chiến dịch Trị - Thiên và tiếp tục nghiên cứu cách đánh B-52. Đồng thời, chủ động xây dựng kế hoạch tác chiến đánh trả cuộc tập kích bằng B-52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng. Đến tháng 9-1972, Quân chủng đã chính thức xây dựng được phương án đánh máy bay B-52 bằng việc phổ biến trong bộ đội phòng không cuốn “cẩm nang đỏ” là cuốn sách “Cách đánh B-52 của Bộ đội Tên lửa”. Đây là kết quả của quá trình tìm tòi, khảo nghiệm, tổng kết thực tiễn chiến đấu, sáng tạo cách đánh của lực lượng phòng không - không quân. Trên cơ sở tài liệu này, ngày 31-10-1972, Quân chủng tổ chức hội nghị cán bộ để thảo luận phổ biến cách đánh B-52, sau đó tổ chức huấn luyện cho các kíp chiến đấu; tiến hành công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, xây dựng quyết tâm; đôn đốc kiểm tra mọi mặt chuẩn bị, đánh trả cuộc tập kích đường không của địch.

Với khí thế cách mạng tiến công, từ năm 1971 - 1972, quân dân miền Nam mở cuộc tiến công chiến lược lớn trên khắp chiến trường miền Nam. Vùng giải phóng ở các khu vực: Trị - Thiên, đồng bằng Khu 5, Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ mở rộng, tạo thành thế bao vây, chia cắt địch. Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ đứng trước nguy cơ phá sản. Để cứu vãn tình thế, đế quốc Mỹ phải dùng phần lớn hỏa lực của không quân và hải quân, “Mỹ hóa” trở lại cuộc chiến tranh ở miền Nam, đồng thời chuẩn bị ném bom trở lại miền Bắc. Tổng thống Mỹ Ních-xơn quyết định mở cuộc tập kích đường không chiến lược mang tên Linebacker-II, chủ yếu bằng các “siêu pháo đài bay B-52” đánh phá Hà Nội, Hài Phòng và một số địa phương ở miền Bắc.

Trước âm mưu của Mỹ, thực hiện chỉ đạo của Trung ương Đảng và Bộ Tổng tham mưu, Quân chủng Phòng không - Không quân gấp rút củng cố, bổ sung lực lượng và phương án tác chiến để đáp ứng các yêu cầu chiến lược. Tại Hà Nội, Hải Phòng có 5 trung đoàn tên lửa, 6 trung đoàn pháo cao xạ (không kể 8 trung đoàn cao xạ của Quân khu 3, Quân khu Việt Bắc), 4 trung đoàn không quân, trong đó chỉ có 2 trung đoàn MiG-21, Ra-đa chỉ có 4 trung đoàn rải khắp miền Bắc. Ngoài ra, lực lượng phòng không của dân quân tự vệ 9 tỉnh có 1.316 khẩu pháo cao xạ các loại. Do yêu cầu và tính chất chiến đấu, Bộ Quốc phòng điều chỉnh một số đơn vị chủ lực và thành lập những đơn vị phòng không mới. Trên địa bàn Hà Nội, Sư đoàn 361 được bổ sung 3 trung đoàn pháo cao xạ 57 và 37 ly (mới thành lập). Đến tháng 6 năm 1972, việc bố trí hỏa lực phòng không trên miền Bắc và Hà Nội đã có nhiều điểm mới để tập trung cho các trận địa ở Hà Nội.

Tháng 11-1972, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam khẳng định, âm mưu của Mỹ cho B-52 đánh Thủ đô Hà Nội - linh hồn của cuộc kháng chiến - sẽ là hành động gây sức ép cuối cùng để buộc chúng ta phải nhân nhượng. Vì vậy, chúng ta phải kiên quyết đánh thắng chúng trên bầu trời Thủ đô... Ngày 25-11-1972, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị: “Tăng cường sẵn sàng chiến đấu”. Bộ Tổng Tư lệnh chỉ thị cho các lực lượng vũ trang tăng cường các mặt chuẩn bị chiến đấu, đồng thời nhận định có nhiều khả năng địch đánh phá trở lại toàn miền Bắc với mức độ ác liệt hơn, kể cả việc dùng máy bay B-52 đánh ồ ạt vào Hà Nội, Hải Phòng. Do đó: “Nhiệm vụ trung tâm đột xuất trước mắt của Bộ đội Phòng Không - Không quân là tập trung mọi khả năng nhằm đối tượng chính là B-52 mà tiêu diệt”.

Như vậy, việc xác định Mỹ sẽ điều B-52 đánh phá bầu trời Hà Nội và chỉ chịu thua trên bầu trời Hà Nội giúp chúng ta có quá trình chuẩn bị công phu 10 năm từ trước khi Mỹ đưa B-52 ra đánh phá bầu trời Hà Nội. Sự chuẩn bị từ sớm về thời gian, lực lượng, huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật, cải tiến vũ khí trang bị, chuẩn bị sẵn sàng về tâm thế, sớm tìm ra cách đánh máy bay B-52 và chuẩn bị một trận địa phòng không ba thứ quân, nòng cốt là bộ đội phòng không - không quân, giúp ta giành thế chủ động ngay từ ngày đầu, trận đầu. Trong 12 ngày đêm, quân, dân Hà Nội và quân, dân các tỉnh miền Bắc đã đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng không quân lớn nhất của đế quốc Mỹ, bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay chiến lược B-52, lập nên một kỳ tích chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”, là kết quả rực rỡ của tư duy bảo vệ bầu trời Hà Nội từ sớm./.

Lại Thị Thu Hương
Lại Thị Thu Hương

Khoa Dân số - Truyền thông - CSSKSS, TTYT huyện Sông Mã

Bình luận0 bình luận